Thơ... thẩn của Nguyễn Nhật Nam
Vọng
Em, đôi cánh chuồn chuồn mỏng dánh
lượn lờ vạt sậy ven sông
Chợt bâng khuâng
nghe dập dềnh sóng hát
câu ca dao
xưa, mẹ mong gả thiếp về giồng
N.N.N
Bến Tre, đêm Noel - 2011
Truyện ngắn
Truyện ngắn
Ngày của những mùa thu đi qua
Nguyễn Nhật Nam
- Vẫn là phòng cũ, chị nhé! Trên đó đã có đủ những thứ cần dùng. Thiếu gì, chị cứ gọi, tôi sẽ mang lên.
Chủ khách sạn là một cô gái trẻ có vóc dáng đẫy đà, cổ áo rộng hớ hênh khoe đường rảnh lõm sâu giữa đôi gò ngực to núc ních. Cô nói và hỏi khi đưa cho tôi chùm móc khóa lủng lẳng cái chìa và tấm mê-ca có ghi số 8 và hàng chữ nhỏ “Khách sạn Cát Tường”:
- Chị đi thang máy cho khỏe?
- Không. Cám ơn. Tôi thích bộ.
Lững thững bước lên mấy bậc cầu thang, tôi tảng lờ như không thấy cô chủ khách sạn nhìn theo nheo mắt, nhếch môi cười nụ. Không hiểu là cảm thông hay xoi mói, nhưng rõ ràng ánh mắt và nụ cười ấy làm tôi khó chịu. Cánh cửa khép lại. Mọi thứ âm thanh đều bỏ lại bên ngoài. Căn phòng chỉ còn tiếng đều đều tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường. Mười sáu giờ bốn mươi lăm phút. “Còn sớm chán!” Tôi liếc nhìn đồng hồ, chép miệng. Mấy ngày nay, đầu óc tôi rối bù với những suy nghĩ vẩn vơ. Chấp nhận cuộc hẹn hò, tôi đã chủ động đến sớm hơn giờ Kiểm hẹn. Đêm qua mất ngủ, tôi mệt mỏi nằm vật trên giường, khép hờ đôi mắt, suy nghĩ vẩn vơ. Bốn mươi hai tuổi. Tôi đã đi quá nửa đời người. Nhiều đêm, rất nhiều đêm thao thức, tôi không chút ngạc nhiên khi biết được lòng mình đã lớn dần nỗi sợ hãi cô đơn và bắt đầu nhiều ước mơ cháy bỏng. Bốn mươi hai tuổi. Cũng như những người đàn bà khác, tôi khao khát có một mái ấm gia đình, được làm vợ của một ông chồng mẫu mực và được làm mẹ của những đứa con ngoan. Vậy thôi. “Kẽ nào giàu mộng tưởng nhất, kẽ đó nhiều đau khổ nhất”. Tôi không mộng tưởng. Tôi mơ ước, một thứ mơ ước thật giản dị, bình thường.
Không phải là kênh kiệu hay tự làm cao giá. Suy cho cùng, cái ngàn vàng đời con gái, tôi đã quá ngây thơ không biết, cũng không giữ được. Vậy thì, khi tuổi sắp về chiều, có nên không khi phó mặc cho số phận đưa đẩy hên xui để lao vào những cuộc phiêu lưu tình ái mà không chút bâng khuâng lắng nghe nhịp đập của trái tim thổn thức để cân phân, chọn lựa cho mình một một nơi chốn bình yên làm ga đỗ cuối một đời người?
Gẫm lại, trên cuộc đời nầy bất kỳ thứ gì cũng có cái giá của nó. Cho nên, khi đã quyết định thì dù mắc hay rẻ, hạnh phúc hay khổ đau, thanh cao hay trần tục hoàn toàn là do ở nơi mình. “Bình tâm. Phải hết sức bình tâm”. Tôi nghĩ vậy và chậm rải đi vào phòng tắm. Những giọt nước mát chảy đều trên da thịt làm đầu óc tỉnh táo hơn. Nhìn tôi, tôi mỉm cười. Tấm kiếng buồng tắm cao tầm quá đầu người đủ để tôi ngắm nhìn tôi trần trụi, uốn éo, vuốt ve những đường cong gợi cảm. Đẹp chứ! Chẳng béo phì, cũng chưa chảy xệ, đúng hơn, là tròn lẵng, chắc nịch và hấp dẫn. Tôi vẫn còn đẹp. Ít ra, tôi cũng đẹp hơn cô chủ khách sạn Cát Tường đẫy đà, đỏm dáng. Tôi tự tin như vậy khi bất chợt bắt gặp những cặp mắt háu háu của nhiều gã đàn ông. Kiểm dường như cũng vậy, không khác. Vừa mấy ngày trước đây thôi. Buổi trưa, trời nắng chang chang bỗng dưng sụp tối sầm và mưa rơi lất phất, tôi ghé vào hiệu shop thời trang của con nhỏ bạn Lan Hương để đụt mưa, tiện thể sắm một đôi giày. Lúc trả tiền, nó lắc đầu, cười “Đã có người trả giúp”. “Trả giúp? Ai trả?”. Tôi hỏi. Nhìn theo hướng nó đang nheo nheo háy mắt, suýt nữa tôi đã bật cười khi nhìn bộ điệu luống cuống của người đàn ông tuổi độ quá năm mươi, thấp lùn và to béo. Vờ như chăm chú chọn hàng nhưng khi tôi vừa quay mặt đi, hắn lại tiếp tục nhìn tôi chòng chọc. “Ông anh họ của em đó. Kiểm “tôm”, đại gia xứ biển. Mình già chát rồi. Chị nhìn tướng tá xem có được không, em làm mối? Lúc trước, nhờ được chị khuyên, em với anh Thiện…”. “Thôi, bỏ đi! Chuyện cũ, nhắc làm gì? Tiền mua giày, tao mua, tao trả. Không quen, ai lại trả dùm!”. Tôi nói và dứt khoát để tiền lên bàn rồi băng qua phía bên kia đường dù mưa đã bắt đầu nặng hạt.
Rất tình cờ và đơn giản. Chuyện qua đường, về tới nhà trọ là tôi quên mất. Chạng vạng, lúc tôi đang cùng đám em út hào hứng chơi trò đỏ đen sát phạt, Lan Hương gọi điện thoại rủ tôi ăn tối. Là đàn em cũ, không có gì phải ngại. Thì đi. Ngày cuối tuần, quán Đông Châu rất đông thực khách. Tôi đến đúng lúc Lan Hương và Kiểm “tôm” cùng đến. Buổi ăn tối đầu tiên thật nhạt nhẽo và không có chút gì ấn tượng. Vậy mà, suốt cả tuần lễ, khuya nào chuông điện thoại cũng reo. Không phải Lan Hương. Là Kiểm. Cả tiếng đồng hồ, tôi như bị “tra tấn” khi bắt buộc phải nghe hắn tỉ tê, kể lể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Mà, dường như tôi cũng có chút xiêu lòng và cảm thấy có gì thiêu thiếu vào mỗi đêm khuya hắn chưa kịp gọi. Ngày thứ tám của “câu chuyện tình qua điện thoại” nầy, buổi trưa, hắn rí rố báo tin và trịnh trọng mời tôi cơm trưa để mừng một vố làm ăn thắng lớn. Lan Hương không đến. Bữa ăn thịnh soạn chỉ có hai người, Kiểm ân cần gắp bỏ thức ăn và mời tôi uống rượu. Mấy ly rượu mừng, tôi không say nhưng chuếnh choáng. Kiểm ghé vào tai tôi “Cẩm Thu! Đi với anh, em nhé!”. Tôi gật đầu. Trời ạ! Chưa thể nói là yêu nhưng không hiểu sao tôi lại có một quyết định quá mức dễ dãi, vội vàng. Chở tôi đảo một vòng quanh thị xã, cuối cùng Kiểm đỗ xe vào khách sạn. Lần đầu tiên đến đây, với Kiểm, tất nhiên cũng chỉ để làm một việc bình thường, hết sức bình thường nhưng không thể thiếu khi da thịt của con đực và con cái chạm vào nhau. Hôm đó khách đông, người vào ra nườm nượp. Tôi im lặng đứng ngắm nhìn bức tranh “Rừng thu” khổ phóng to gần bằng mảng tường khách sảnh.
- Dạ! Hết phòng rồi ạ!
- Hết phòng?
- Dạ! Hết phòng. Anh thông cảm, đang tuần lễ tổ chức Hội chợ. Các doanh nghiệp ở thành phố và mười mấy tỉnh đồng bằng về đông lắm! Họ thuê hết cả phòng. Không chỉ Cát Tường đâu, mà cả cái chợ Thị xã nầy e rằng cũng không có khách sạn nào còn trống chỗ.
- Thì… tôi cũng là…
Có thể, giọng Kiểm cáu gắt khiến cô chủ khách sạn áy náy và có chút ấn tượng về hai người khách lạ. Chăm chú rà ngón tay trên tấm bản đồ bố trí phòng, cô buột miệng nói như reo:
- À! Có đây rồi! Có người khách vừa mới trả phòng. Tầng 3. Phòng số 8. Mời anh chị…
Lên phòng. Tay trong tay bối rối không biết làm gì, tôi lẩm nhẩm đếm từng nấc bậc cầu thang. Đó là một căn phòng cuối dãy, mặt ngó ra con đường lớn, bên kia đường là sông, bên kia sông là tấm thảm màu xanh bát ngát rừng dừa. Tựa lưng vào thành lan can lơ đễnh nhìn đám mây thu lãng đãng trôi vô định, tôi bật cười khan. Là định mệnh? Hay, là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Thì cũng vậy thôi. Đời người là một vở kịch bi hài mà định mệnh hay số phận cũng chỉ là những trùng hợp ngẫu nhiên được gã thầy tuồng dày công sắp xếp. Tầng 3, phòng 8. Tôi sinh ngày ba tháng Tám - ngày của những mùa thu đi qua, ghi nhận sự hiện hữu của tôi trên cuộc đời nầy. Bốn mươi hai bậc thang chia đều giữa hai chiếu nghỉ - đường biểu diễn của bản đồ thị đời tôi: bốn mươi hai tuổi, một lần mê thiếp bị biến thành đàn bà và một lần tự nguyện làm thiên chức duy trì nòi giống của đàn bà.
Tôi định nói với Kiểm điều đang chợt nghĩ nhưng chưa kịp nói. Vừa mở cửa, Kiểm đã đẩy tôi vào phòng, gấp gáp tốc áo tôi lên, cặp mắt đờ đẫn và đôi bàn tay táo tợn. Tôi không hưởng ứng cũng không phản kháng mà buông xuôi và chịu đựng. Thân hình phì nộn của Kiểm đè ập tôi xuống giường, cuồng nộ, tham lam, vùi dập. Mùi nước hoa trộn lẫn mùi mồ hôi hăng hắc khiến tôi có cảm giác ngạt thở và mê thiếp. Mơ hồ mà tỉnh táo, tôi như đang bềnh bồng trôi ngược trên dòng sông ký ức của tuổi thơ bất hạnh và của nửa đời người lăn lốc giữa chợ người.
Nói thật lòng, tôi rất mù mờ về cái xóm nghèo ven biển quê tôi. Năm tuổi, tôi đã ngơ ngác nhìn ba má tôi chia tay, một cuộc chia tay nhiều nước mắt. Lạ kỳ. Chỉ mới vừa ngân ngấn dòng nước mắt, hai bàn tay nắm chặt hai bàn tay gầy guộc của má tôi và thủ thỉ dặn dò, ba tôi vụt hét to lên những lời văng tục. Hàng xóm kéo lại can ngăn, ba tôi càng được nước, thẳng tay tát mạnh vào mặt khiến má tôi lảo đảo, phóng vọt ra ngoài chạy như trối chết.. Cầm mác vót đuổi theo một đỗi, ông hậm hực quay trở lại, châm lửa rồi quày quả bỏ đi khi ngọn lửa đã thiêu rụi căn nhà xiêu vẹo. “Chuyện người lớn, khi lớn khôn rồi tụi con sẽ hiểu”. Má tôi dỗ dành chị em tôi mà rưng rưng nước mắt nhìn những người hàng xóm tốt bụng đang chung tay dựng lại căn nhà. Ba tôi đi, má tôi không giận mà thương nhớ, chờ mong khắc khoải. Nhiều đêm, khi nghe từ đâu đó xa xa vẳng lên tiếng súng, má tôi đã lật đật ngồi bật dậy thắp lên bàn thờ ông bà nội mấy nén nhang thơm, lâm râm cầu nguyện.
Ngày tháng nặng nề trôi qua trong nỗi nhớ. Mấy năm sau, vào một buổi sáng đẹp trời, xóm làng bỗng rợp cờ hoa và rộn rả tiếng cười vui mừng ngày đoàn tụ. Ba tôi vẫn biền biệt không về, mãi mãi không về. Nào giờ, cuộc sống cả nhà chỉ nhờ vào đôi bàn tay thô ráp và những giọt mồ hôi vương mùi bùn đất của ba tôi. Vắng ông, cảnh nhà túng thiếu càng thêm túng thiếu. Có điều, dù đói, dù no, bao giờ má tôi cũng cấm tuyệt không cho tôi lén đi mò cua, bắt ốc mà phải ngày ngày cắp sách đến trường. Mười hai tuổi, tôi đã bắt đầu thấm thía mùi đời. Mùa màng thất bát bởi nạn dịch rầy nâu, hạt gạo quý hơn vàng nên dù một phần cơm độn đến ba phần khoai chuối cũng không đủ cái để ăn. Trường xa. Tan buổi học chiều, tôi dầm mưa tất tả chạy về nhà kịp trước khi trời sụp tối. Vào buồng thay quần áo, tôi chết điếng không tin vào mắt mình khi nhìn thấy tấm thân mảnh mai yếu đuối của má tôi đang như con rắn uốn éo trên giường, phía dưới thân thể trần truồng của một gã đàn ông lạ hoắc. Nhà xa, chợ cũng xa. Tuốt trên chợ huyện, nhiều người tạo kế sinh nhai bằng cách sắm ghe có trọng tải lớn rồi biến nó thành cái “chợ nho nhỏ lưu động” xuôi ngược trên khắp các sông rạch quê tôi để bán một số các mặt hàng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt, ăn uống hàng ngày. Thằng Ba Đực chủ ghe là một. Nó đã ghé nhà tôi, đã mặc cả cho một cuộc vụng trộm ái ân với má tôi bằng mười ký gạo và mười gói thuốc cảm mạo tán nhãn hiệu Con Cò. “Tẻn ơi! Đừng giận má! Thằng Tí sốt li bì, mấy ngày không thuốc men, không cơm cháo. Đừng giận má, Tẻn ơi!”. Má tôi khóc. Tôi khóc. Tuổi mười ba, tôi đã hiểu được tấm lòng bao la của mẹ. Nhưng rồi sự hy sinh cao cả và tấm lòng biển trời bao la ấy cũng không thể giành lại sinh mệnh của em tôi. Thằng Tí chết, kéo theo cơn đột quỵ của người mẹ hiền từ. Thương má vô cùng. Một hôm, nhìn thấy đũng quần dấy máu, tôi kêu thét lên hoảng hốt khiến má tôi đang nằm bệnh liệt giường cũng phải ngồi bật dậy. Hiểu ra, bà cố gượng nhếch nụ cười hiền “Không sao đâu, con. Mỗi tháng một kỳ, mỗi kỳ vài ba ngày, sẽ hết”. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng má tôi chải tóc cho tôi, dạy tôi bài học vở lòng thời con gái. Ấy, là một buổi chiều mưa buồn đứt ruột. Tôi vẫn sống, vẫn tiếp tục phải sống cuộc sống của con bé mồ côi một bóng một thân lủi thủi trong căn nhà nhiều kỷ niệm buồn đau da diết. Thèm được ấm áp trong vòng tay yêu thương của mẹ, nhiều đêm tôi đã ra nằm bên nấm mồ chưa xanh cỏ và mơ ước biến thành cô bé Nghi Xuân được bà mẹ Cúc Hoa hiện hồn về an ủi dỗ dành và dịu dàng chải tóc. Nhưng rồi, cõi trần gian đã không có Bụt. Bảnh mắt ra, tôi mủi lòng thất vọng khi cút côi vẫn hoàn côi cút. “Hạt muối cắn làm đôi”, một nửa dành cho con, một nửa dành cho đứa trẻ mồ côi tội nghiệp. Hàng xóm đều là những người tốt bụng. Ngặt nỗi, đang buổi khó khăn, công việc mưu sinh còn vất vả thì đâu ai có thể kéo dài ngày tháng cưu mang. Tôi đi. Ngày tôi gạt nước mắt ly quê, ông bà chủ đò dọc đã ngân ngấn dúi vào tay tôi hai trái bắp luộc và gật đầu cho tôi quá giang lên chợ tỉnh. Phố đông. Người đông. Bến chợ tấp nập tàu xe làm tôi choáng ngợp. Ngơ ngác đứng ở bến đò, người tôi gặp đầu tiên là một người đàn bà lòe loẹt phấn son, vóc dáng đẫy đà, phốp pháp. Liếc nhìn hàng chữ bên mép mui đò ghi tuyến đường đò dọc, bà xởi lởi nói về chuyện con người và đất cát quê tôi, cuối cùng xưng dì và nhận tôi là cháu họ. Quan hệ huyết thống họ hàng thực hư thế nào chưa biết, nhưng như người sắp chết đuối vớ được phao, tôi lẽo đẽo đi theo bà dì họ.
“Nhà mặt tiền. Dư ăn, dư để. Việc mình, mình làm. Không con cái, cũng chẳng tin ai nên không thuê mướn người giúp việc”.
Lúc hai dì cháu lúi húi lo buổi cơm chiều, bà dì họ đã bóng gió phát khúc dạo đầu như vậy. Nhìn trên bàn bày dọn ê hề thịt cá, tôi chạnh lòng nhớ mẹ, nhớ em và những buổi cơm rau đạm bạc ở quê nghèo.
- Cháu cũng vậy, mà con thì cũng vậy. Dì dượng muốn làm lại cái giấy khai sinh cho hợp pháp, chịu hôn?
Bà dì vừa hỏi dứt câu, ông dượng đã xen vào:
- Cháu nó đã về với mình, mình lo. Bà hỏi ngặt quá làm sao nó dám trả lời. Cứ vậy đi. Ba cái loại giấy tờ nầy mà tốn kém bao nhiêu. Ờ! Con tên gì? Mấy tuổi?
- Dạ… con tên Tẻn. Mười lăm tuổi.
Nghe tôi lí nhí nói tên, dì dượng ngó nhau cười, lắc đầu nguầy nguậy. Ông dượng nói khi đã rít mấy hơi thuốc lá:
- Tẻn? Xấu quá! Cái tên nghe xấu quá! Thôi bỏ đi. Giấy tờ mới phải làm tên mới. Mấy ngày nữa là đến tết Trung thu, tui tính đặt cho nó tên Thu. Gọi nó là Cẩm Thu, bà nghe có được hôn, bà?
- Được quá chớ! Tui Cẩm Tú. Nó Cẩm Thu. Gì chớ cái tên nầy nghe được lắm!
Gật gù, dì Tú cười hăng hắc, tiếng cười sảng khoái của người giàu. Dì tỉ mỉ dạy tôi bài học đầu tiên về thói dại khôn “đèn nhà ai nấy sáng” của cư dân thị tứ và những sinh hoạt đã thành nếp của gia đình dì. Đại khái, mỗi ngày, sáng sớm ra chợ cho vay tiền, trưa về ăn cơm, chiều trở ra chợ thu bạc góp, sẫm tối về ăn cơm, tụng kinh niệm Phật. Thọ giới trì chay. Hàng năm, phải một chuyến đi Núi Bà ở Tây Ninh, một chuyến đi Núi Sam ở Châu Đốc. Năm nào làm ăn khắm khá hơn thì có thêm vài chuyến đi thăm chùa Khỉ, tắm bùn và tắm suối nước nóng ở Bình Châu…
Vậy là, cái tên Tẻn quê mùa tôi đã phải trả lại chốn quê mùa để bắt đầu một cuộc sống mới với một cái tên gọi mới: Hà Thị Cẩm Thu. Nhà kín cổng cao tường, dì dượng dòm ngó tôi rất chặt. Việc chợ búa, dì lo. Tiếng là con nuôi nhưng công việc hàng ngày là con ở, tôi như cái máy phải vận hành cho thật khớp với qui trình: lo ăn sáng, rửa chén, giặt giũ, quét sân, tưới kiểng, lo cơm trưa, rửa chén, lau nhà, ủi xếp quần áo, lo cơm tối… Suốt ngày quần quật nên dù đã mấy năm làm dân chợ, tôi chưa một lần có dịp nhìn để được biết cái chợ tỉnh lớn nhỏ ra sao. Tôi cũng không thích giao du nên không có bạn. Bù lại, tôi cũng có phòng riêng, có cơm no, áo ấm. Mười sáu tuổi, tôi đã bớt gầy còm và mất dần mùi đất mặn, phèn chua của miền quê biển. Mười bảy tuổi, tôi đã sớm trở thành một cô thiếu nữ phổng phao, tóc dài, da trắng và đôi gò ngực nhô cao nhung nhúc được dì Tú chăm chút, xăm soi mua sắm đến cả quần lồng, áo lót. Dượng Tú cũng vậy, hàng ngày vào ra chạm mặt, dượng thường nhìn tôi không chớp mắt, hệch hạc cười, giọng nửa thật, nửa đùa:
- Đẹp lắm! Cứ ở vậy đi! Lấy chồng sớm là… uổng phí...
Ngày tháng trôi qua chóng vánh. Cuộc sống hồn nhiên bình lặng như mặt nước hồ thu có lẽ sẽ dài hơn, nếu như trời đừng trớ trêu dành cho tôi cái ngày oan nghiệt.
Sáng sớm, sớm hơn mọi ngày, lúc vợ chồng đã ngồi trên xe, dì Tú còn quay lại “Ở nhà cứ lo các thứ. Dì đi thành phố, chiều về”. Tôi gật đầu. Lần đầu tiên trong đời, tôi có được một ngày vui đầy ý nghĩa, ngày ba tháng Tám, ngày sinh nhật của tôi, ngày của những mùa thu đi qua, ghi nhận tôi đã mười tám năm hiện hữu trên cuộc đời nầy. Mừng lắm! Vui lắm! Tôi lúi húi lo nấu nướng, chưng bày.
Đến chiều, dượng Tú về một mình, đảo mắt láo liên lại còn làm mặt giận, nói trõng không:
- Điện thoại cứ ò í e. Gọi hoài, không liên lạc được. Hổng biết đi đâu. Thôi, trễ giờ rồi, không đợi nữa. Chừng nào muốn thì về, kệ bả.
Dượng Tú nói rồi lăng xăng giúp tôi cắt bánh, thổi đèn và nhắc tôi lời cầu nguyện mừng ngày sinh nhật. Ngồi vào bàn ăn, dượng ân cần gắp thức ăn cho tôi, lại còn mời tôi uống rượu. Tôi lắc đầu từ chối. Dượng đứng dậy, te rẹt lên lầu xách xuống một chai nước màu vàng sậm.
- Sinh nhật mà không uống rượu thì hơi… thiếu. Thôi. Không uống được thì thôi, không ép, dượng uống một mình. Phần nầy của con, cứ uống. Nước cơm rượu pha nước gừng với ít bột quế khâu. Thức ăn nhiều dầu mỡ, uống thứ nầy vào cho ấm bụng. Nào, ta cụng ly mừng sinh nhật.
Dượng Tú uống. Tôi uống. Nhìn tôi nhăn mặt nhấm nháp từng ngụm nhỏ, dượng nhếch mép cười hềnh hệch:
- Dở ẹt! Uống nước cơm rượu mà như uống thuốc độc không bằng. Rượu mừng. Đã uống ly của dì thì phải uống ly của dượng. Ly nầy dượng chúc mừng… con.
Rượu mừng không thể không uống. Tôi uống thêm ly nữa. Khi chất nước cơm rượu ngòn ngọt, cay cay vừa chui tọt qua cổ họng, trước mắt tôi trời đất bỗng chao nghiêng. Dượng Tú đứng sát người tôi. Dượng vịn vai tôi, Dượng hôn tóc tôi, Dượng vuốt má tôi. Dượng kề tai tôi, lắp bắp:
- Cẩm Thu!...Em… con… em… sao vậy?
Giọng điệu của ông dượng như mách trước chuyện bất thường. Tôi cố nhướng lên nhưng đôi mí mắt nặng trịch và chân tay mềm nhũn. Trời đất tối sầm. Mơ hồ như có ai đó nhấc bổng tôi lên. Âm thanh cuối cùng tôi còn được nghe là tiếng bừng bực mở tung hàng cúc áo…
Trời sáng. Tỉnh dậy, tôi giật thót tim khi nhìn thân thể của mình không mảnh vải. Nằm bên cạnh là một khối thịt hôi hám nặng gần trăm ký của một con quỷ trần truồng.
- Thằng tài xế cuỗm bả mất rồi. Anh sẽ ly dị. Tài sản sẽ chia hai. Nhà bên kia của bả. Nhà bên nầy của anh, sẽ… giao lại cho em. Anh sẽ … Cẩm Thu! Anh sẽ…
Con quỷ thều thào, mê hốt, rồi lại ôm hôn tôi, bàn tay thô bạo sờ soạng thân thể tôi, khám phá.
Làm sao bây giờ? Tôi cựa mình định kêu to phản kháng, nhưng sự tức giận và lòng căm thù đã kịp nén lại và nhắc nhở tôi những kinh nghiệm sinh tồn của chú chuột nhắt Jer-ri, rằng: chú chuột nhắt tội nghiệp không thể nào phản kháng, cũng không đủ sức phản kháng để vượt thoát khỏi đôi hàm răng sắc nhọn của con mèo Tom hung ác
Tôi vờ co rúm:
- Đừng… mà…dượng..! Con… Đừng… mà, …anh…ơi! Anh… em… sợ…
Giọng ngắc ngứ, hụt hơi đứt quảng của chú chuột đã khiến con mèo hung ác phải mụ mẫm, nới lỏng vòng tay. Tôi chồm lên. Tôi hôn lên trán gã. Tôi hôn lên ngực gã. Tôi vuốt ve, mơn trớn gã. Rồi, bằng tất cả sức lực bình sinh của cô con gái mười tám tuổi, tôi đã kết liễu cuộc đời thằng súc sinh bờm xờm lông lá bằng hai hàm răng nghiến chặt. Bất ngờ đau điếng, gã rống to như con heo nọc bị lưỡi dao nhọn hoắt thọc vào cổ họng. Gã cuống cuồng bỏ chạy. Gã hoảng loạn đâm đầu vào cửa kiếng. Gã ngã vật xuống sàn nhà, tay chân co giựt rồi ngoẻo đầu, bất động.
Mười tám tuổi phải đứng trước vành móng ngựa, tôi ngơ ngác khóc. Một vị nữ luật sư giỏi có tiếng đã tự nguyện biện hộ cho tôi mà không nhận tiền công. Trước tòa, bằng giọng mạnh mẽ, thuyết phục, bà đã trưng nhiều chứng cứ: là kết quả phân tích xác định chất gây mê có trong chai nước cơm rượu, là chiều cao và vết máu dính trên cửa kiếng… Có điều, dường như bộ điệu thiểu não và tiếng kêu gào thê thiết của bà dì đanh đá, ranh ma, quỉ quyệt đã làm nao lòng các vị quan tòa. Cho nên, những người nhân danh công lý cứ thao thao bất tuyệt về tình trạng đạo đức suy đồi, về đạo hiếu và trách nhiệm làm con…v…v… mà phớt lờ kết quả giám định pháp y chứng nhận rõ ràng tôi là một nạn nhân của một vụ bạo dâm, cưỡng hiếp. Tôi khóc và im lặng. Bởi tôi không có khả năng trình bày lý lẽ để biện minh và tự bảo vệ mình.
Lên xe về trại giam, tôi không khóc nữa, đôi con mắt ráo hoảnh, đầu óc lan man những suy nghĩ vẩn vơ. Mười năm tù giam về tội giết người. Có oan khiên không, có nặng nề không với một cô gái quê mùa vừa tròn mười tám tuổi? Định mệnh. Quả tình, một khi định mệnh đã an bày, dù đó là sự áp đặt của một gã thầy tuồng dốt nát thì cũng đành phải cam lòng. Bởi, tôi nhỏ bé sức đâu mà cưỡng lại?
Thời gian thụ án, những người bạn nữ tù của tôi là những phạm nhân gồm đủ các thành phần và đủ thứ tội danh: thụt két, hối lộ, lừa đảo, ma túy, bán dâm… nên “ma cũ hiếp ma mới” là chuyện xãy ra như cơm bữa. Với cái đầu ngờ nghệch và bộ dáng mảnh mai, nhỏ thó, tôi luôn bị những người bạn nữ tù sai khiến, hiếp đáp, hành hạ như con mọi. Rồi, cũng sẽ quen thôi. Tôi nghĩ vậy và cắn răng chịu đựng. Học được nhiều điều và cũng tiêm nhiễm cũng khá nhiều điều, tôi trở nên lạnh lùng, lầm lì ít nói. Buồn. Buồn lắm! Trong lòng tôi lúc nào cũng trĩu nặng nỗi nhớ thương. Nhớ quê, nhớ ba, nhớ má, nhớ em, nhớ những tấm lòng nhận hậu đã cưu mang những ngày tôi côi cút. Tôi khóc. Nhiều đêm, tôi khóc và cầu nguyện. Rồi, không biết có phải là linh nghiệm hay trùng hợp ngẫu nhiên mà số phận đã nhìn tôi mỉm cười, xui khiến tôi được may mắn gặp anh.
Trong trại, tất cả mọi thứ sinh hoạt ăn uống, tiếp xúc, đi lại, nhất là các mối quan hệ nam nữ đều được kiểm soát bằng những nguyên tắc và qui định rất nghiêm nhặt. Trại nam riêng. Trại nữ riêng. Lao động tập thể ngoài nông trường, nam nữ cũng phải chia thành hai khu vực. Vậy mà, tôi cũng đã gặp anh, một người đàn ông có bộ dáng cao lớn dềnh dàng trông dữ dằn như tướng cướp nhưng đôi mắt xa xăm và nụ cười hiền như những người nông dân chơn chất của quê tôi. Đứng bên nầy len lén nhìn qua phía bên kia, tôi ngỡ ngàng khi bắt gặp ánh mắt của anh đăm đắm nhìn tôi rất lâu và rất lạ. Anh cười. Ánh mắt và nụ cười ấy như mê hoặc tôi, khiến tôi phải tương tư và đêm nằm thao thức với những điều không sao lý giải. Mấy ngày sau lần gặp anh, tôi chợt phát hiện không khí trong phòng giam dường như đã bớt u ám và quan hệ đối xử của những người nữ phạm đối với tôi cũng trở nên gần gũi, nhẹ nhàng. Dù phải băn khoăn suy nghĩ với điều lạ lùng bất ngờ thay đổi, tôi cũng bắt đầu lóe sáng chút niềm tin: cuộc sống vẫn còn đáng sống. Tôi lại gặp anh. Cũng từ bên nầy len lén nhìn qua phía bên kia, cũng bắt gặp ánh mắt nhìn tôi rất lâu và rất lạ. Có điều, lần nầy trong ánh mắt anh nhìn tôi như có điều gì muốn hỏi. Bâng khuâng. Trực giác của người phụ nữ đã giúp tôi đọc được trong mắt anh điều đó, tôi nhè nhẹ gật đầu. Anh cười, nụ cười tỏ vẻ hài lòng khiến tôi ngờ ngợ rằng anh vui mừng và an tâm khi đã làm xong một việc gì đó để ngầm che chở, giúp đỡ, tạo cho tôi giữ được niềm tin để sống. Đêm hôm đó tôi lại nằm mơ. Tôi mơ thấy anh nhìn tôi nở nụ cười hiền.
Với chút niềm vui và mỏi mê công việc, tôi đã tạm quên đong đếm thời gian. Qua dịp đón Tết Nguyên đán, lại đến dịp chào mừng nước nhà độc lập, toàn trại có gần ba trăm phạm nhân được đặc xá giảm án và mãn án trước thời hạn, trong đó có anh và tôi. Hôm trên đường trở về hòa nhập với cộng đồng, Hiển âu yếm nắm chặt tay tôi, đã nhìn thật sâu vào mắt tôi và nói với tôi điều anh đang mơ ước. Tôi gật đầu. Đó là một ngày vui hơn cả những ngày vui. Thế rồi, chỉ trong một buổi chiều, lưa thưa tính ra cũng mươi người bạn cũ tìm đến nơi anh thuê trọ. Tất nhiên, tôi cũng được Hiển giới thiệu về mối quan hệ vợ chồng.
Đêm hôm đó, đêm đầu tiên tôi tự nguyện làm cái thiên chức duy trì nòi giống của đàn bà, với Hiển. Đặt lên trán tôi nụ hôn đằm thắm, anh ấm giọng thì thầm: mười hai năm thụ án với tội danh giết người đã quá đủ để anh chiêm nghiệm về cuộc đời dao búa của tên trùm băng nhóm xã hội đen, giờ anh chỉ ước mơ được làm một công dân lương thiện để có thể yên vui xây dựng cho mình một gia đình hạnh phúc. Thì, tôi và anh chẳng đang hạnh phúc đây sao? Tôi thật sự hạnh phúc được làm vợ, hạnh phúc được ôm chầm lấy anh, được nghe anh vẽ vời ra một tương lai, dù giản dị và rất đỗi bình thường. Có điều, hạnh phúc quá ngắn. Anh đi. Anh lại ra đi, mãi mãi ra đi khi tông xe vào cột đèn lúc đã say vì những ly rượu bạn bè chúc mừng ngày anh ra trại. Hiển chết. Tôi lại bơ vơ khi chưa kịp biết chút gì về người thân và xứ sở chồng mình. Quả tình, là oan nghiệt. Khi vừa đặt một bàn chân lên con đường lương thiện để sẵn sàng cho một cuộc hành trình làm người lương thiện, ông trời đã tàn nhẫn buộc anh phải theo đường về cõi vĩnh hằng và đẩy tôi sang một đường khác nữa. Thế là, không nghề nghiệp, không nhà cửa, không chỗ tựa nương tôi đành phải chấp nhận một cuộc sống lăn lốc giữa chợ người Với kinh nghiệm lọc lừa và những điều tiêm nhiễm bạn tù, tôi đã nhanh chóng trở thành một “bà trùm” với gần ba chục đàn em, trong đó có con bé Lan Hương mà tôi yêu mến nhất. Bởi, tuổi nó nhỏ hơn tôi, nhưng sinh cùng tháng, cùng ngày và cùng có một quãng đời tuổi thơ bất hạnh. Thương nó lắm! Một buổi chiều mưa, đường phố vắng thưa người, cả bọn kéo nhau vô góc chợ ngồi nhìn trên sông mưa hoàng hôn trắng xóa, tôi đã “cáp” đôi uyên ương Lan Hương – Hữu Thiện. Nó cười. Thằng Thiện cũng cười. Nhìn đôi chim mỏi cánh giang hồ rưng rưng nước mắt nắm lấy tay nhau, cùng nhau ước nguyện bắt đầu làm lại cuộc đời mình, tôi khóc…
- Cẩm Thu! Em sao vậy? Tính chuyện sinh nhật, phải hôn? Em yêu ơi! Còn đến cả tuần lễ nữa, lo gì?
Hưng phấn khi đã hùng hục làm xong việc cần làm, Kiểm hỏi và cười. Tiếng cười mãn nguyện khùng khục trong cổ họng như tiếng gầm gừ của con cọp đực vụt cắt ngang dòng ký ức, tôi nguýt mắt, bỉu môi cười, chống chế:
- Sinh nhật? Nào giờ, có mấy khi mừng sinh nhật! Mà, ai nói?
Kiểm hệch hạc cười giả lả:
- Thì… nhỏ Lan Hương chớ ai. Cô em họ của anh mời sinh nhật. Nó nói em với nó cùng sinh ngày ba tháng Tám. Đúng hôn? Vầy đi. Công việc giao dịch làm ăn phải thường xuyên lên tỉnh. Thuê khách sạn tốn kém lại không tiện, anh tính mua nhà. Năm ba trăm là chuyện nhỏ. Em nghĩ sao?
- Mua thì mua, sao phải hỏi?
- Phải hỏi chớ! Mừng sinh nhật của em, mua nhà cho em nên phải hỏi. Em yêu! Anh nói thiệt. Không chỉ là cái nhà nầy, mà là toàn bộ gia tài sản nghiệp, thủng thẳng anh tính rồi cũng sẽ giao em. Anh sẽ…
Nghe Kiểm xun xoe, tôi ngắt:
- Anh sẽ… là sẽ làm sao? Thôi đi ông. Mới vừa quen, chưa hiểu nhau nhiều, đừng vội tính. Đừng quên, anh còn bà vợ ở nhà?
- Bả hả? Trời ơi! Có gì đâu mà phải bận tâm? Đừng lo. Em không cần phải bận tâm lo lắng gì cả. Định cư bên Mỹ. Mấy năm không liên lạc. Nghe đâu, có thằng Mỹ khù khờ nào đó bị thôi miên đến mê mẩn. Nó săn đuổi, cung phụng bả. Nó tặng xe, tặng nhà, lại còn hiếu hỷ tặng luôn cái khách sạn có tầm cỡ ở Cali. Vậy đó. Có tiền mà, đến ông trời nó mua cũng được. Bả bỏ anh rồi. Mà, bỏ thì cứ bỏ. Giờ có em, anh chỉ thích em thôi.
Kiểm rầu rỉ nói một hơi dài. Đăm đắm nhìn tôi trần trụi trên tấm drap trắng muốt, Kiểm cúi xuống bế thốc tôi vào buồng tắm và đòi… yêu tôi lần nữa. Tôi lắc đầu từ chối:
- No quá mất ngon, mau chán. Còn nhiều lần gặp nữa. Mình về?
Bước xuống mấy bậc cầu thang, Kiểm bịn rịn áp tôi vào tường hôn lên má lên môi, bàn tay mơn man nhét vào áo ngực tôi tờ giấy bạc.
Chia tay. Lủi thủi về căn nhà trọ, tôi bâng khuâng lắm điều suy nghĩ về cuộc hẹn hò nầy. Là tình yêu trân trọng, chở che và tự nguyện dâng hiến? Là tiện nghi cuộc sống và trao đổi xác thân? Thật lòng, tôi hoang mang không sao hiểu được.
Hôm sau và mấy hôm sau nữa, khuya nào chuông điện thoại cũng reo. Là Kiểm. Cũng vẫn lời mật ngọt yêu đương, cũng vẫn giọng xun xoe của đại gia xứ biển, Kiểm hể hả, oang oang: vừa xổ mấy vuông tôm hốt ngoài tỷ bạc và đang chuẩn bị lên tỉnh để hoàn tất thủ tục sang nhượng một ngôi nhà. Rồi đêm qua, lại cũng chuông reo. Không phải điện thoại mà là tin nhắn. Kiểm nhắn: “Vo yeu! 18 gio ngay mai. KS Cat Tuong. Mung sinh nhat”. Mẫu tin nhắn của Kiểm làm tôi bối rối. Bảy ngày làm quen qua điện thoại và một lần hò hẹn ái ân, đã đủ yêu thương chưa, đã kịp hiểu nhau chưa mà gọi vợ, xưng chồng?
Băn khoăn, nhưng cuối cùng tôi cũng đã đi. Tôi đến khách sạn Cát Tường sớm hơn giờ Kiểm hẹn. Không phải là háo hức với những đòi hỏi trần tục, cũng không hẳn là nôn nao với lời anh hứa tặng ngôi nhà, mà tôi cần một thoáng không gian tĩnh lặng để bình tâm chiêm nghiệm về những ngày của mùa thu đi qua và sẽ phải đi qua.
Mười bảy giờ năm mươi phút.
Chiếc đồng hồ treo tường đều đều tích tắc nhắc tôi: mười phút nữa Kiểm đến, chắc chắn sẽ đến. Kiểm sẽ mở cửa phòng, sẽ gấp gáp tốc áo tôi lên, cặp mắt đờ đẫn và đôi tay táo tợn. Kiểm sẽ…
Không. Tôi không thể, ngàn lần không thể. Dứt khoát bấm tắt nguồn điện thoại. Tôi không muốn gặp Kiểm. Tôi muốn quên. Tôi muốn tất cả sẽ chỉ là chuyện qua đường.
Bước xuống cầu thang và trả chìa khóa phòng, tôi băng qua phía bên kia đường rồi lững thững dọc theo bờ sông về hướng chợ. Hoàng hôn. Những tia nắng nhợt nhạt cuối ngày đã nhanh chóng tan biến trong màn đêm chập choạng. Nước đầy sông. Gió hầy hậy lướt nhẹ trên mặt nước sông đầy. Ngồi nhìn chiếc đò dọc chở đầy hơi hướm làng quê đang muộn màng cặp bến, tôi chạnh lòng nhớ má tôi, nhớ em tôi, nhớ mười ký gạo và mười gói thuốc cảm mạo tán nhãn hiệu Con Cò của thằng Ba Đực, tôi khóc…
N.N.N
Bến Tre, tháng 10/2011

Bản in





